Nghiên Cứu Lâm Sàng

Nghiên Cứu Lâm Sàng An Cung Rùa Vàng (Phần 3)

Ngày đăng: 10-07-2014 03:20:46  |   Xem các bài viết của admin »
An Cung Rùa Vàng là thuốc dùng để cấp cứu, điều trị và phòng bệnh tai biến mạch máu não, đột quỵ não cực kỳ hiệu quả. Thuốc đã được nghiên cứu lâm sàng và sau đây là kết quả nghiên cứu.

NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH CẤP VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐỘT QUỴ DO NHỒI MÁU NÃO CỦA VIÊN AN CUNG NGƯU HOÀNG HOÀN

Nguyễn Minh Hà, Nguyễn Công Thực, Nguyễn Minh Hiện, Hoàng Thị Bình Minh

Viện Y học cổ truyền Quân đội, Bệnh Viện Quân y 103, Viện Y học cổ truyền Nghệ An.

TÓM TẮT

Nghiên cứu độc tính cấp và tác dụng điều trị nhồi máu não của thuốc An cung ngưu hoàng hoàn (ACNHH). Kết quả cho thấy chưa xác định được liều LD50 trên động vật thực nghiệm. Trên lâm sàng, sau 15 ngày điều trị, nhóm được kết hợp điều trị bằng thuốc ACNHH ý thức bệnh nhân được cải thiện theo thang điểm Glasgow: trước điều trị 4,9% bệnh nhân rối loạn ý thức nặng; 19,5% bệnh nhân rối loạn ý thức vừa; 75,6% bệnh nhân rối loạn ý thức nhẹ; sau điều trị các tỷ lệ này lần lượt là: 0%; 0%; 100%. Mức độ liệt được cải thiện rõ rệt; theo thang điểm Henry: trước điều trị bệnh nhân liệt tay hoàn toàn hoặc rất nặng 53,65%; liệt chân hoàn toàn hoặc rất nặng 46,33%; Sau điều trị: liệt tay hoàn toàn hoặc rất nặng 12,18%; liệt chân hoàn toàn hoặc rất nặng 7,31%. Kết quả hồi phục tốt hơn so với nhóm chứng (p<0,001). Kết quả hồi phục chung được cải thiện rõ rệt theo thang điểm NIHSS: điểm trung bình được điều trị là 7,54 ± 3,62; sau điều trị là 3,2 ± 2,58 (p<0,01); kết quả hồi phục tốt hơn so với nhóm chứng (p<0,05).

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Đột quỵ não (ĐQN) hay theo y học cổ truyền (YHCT) được gọi là bệnh trúng phong đã và đang trở thành vấn đề đặc biệt quan tâm của y học, do tuổi thọ trung bình ngày càng tăng và mức sống được cải thiện cùng những căng thẳng do đời sống bận rộn mang tính công nghiệp, khiến tỷ lệ mắc bệnh đột quỵ ngày càng tăng.

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), ĐQN trong đó nhồi máu não (NMN) chiếm đến 70% nguyên nhân tử vong, đứng hàng thứ 2 sau ung thư và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế. Tỷ lệ để lại di chứng mức độ vừa và nặng khoảng 50%. Chi phí cho cấp cứu, điều trị vừa tốn kém, vừa kéo dài. Bệnh thường để lại di chứng tàn phế nặng nề cả về thể xác và tinh thần đối với bệnh nhân, cũng như gia đình và xã hội.

ACNHH; hoa đà tái tạo hoàn, lạc thái... là những thuốc được bào chế từ những bài thuốc YHCT Trung Hoa đang có mặt tại Việt Nam và đang được rất nhiều người quan tâm sử dụng trong điều trị đột quỵ. Để đánh giá hiệu quả của thuốc ACNHH, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục đích.

1. Xác định độc tính cấp (LD) của thuốc ACNHH trên thực nghiệm.

2. Đánh giá hiệu quả điều trị NMN giai đoạn cấp của thuốc ACNHH trên lâm sàng.

II. Chất liệu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

2.1 Chất liệu nghiên cứu:

-  Viên thuốc hoàn mềm ACNHH 3gr/viên; do Trung Quốc sản xuất.

-  Các thuốc y học hiện đại (YHHĐ):

+ Chống phù não: mannitol 20%.

+ Tăng cường tuần hoàn não: Nootropyl 1g do UCB sản xuất.

+ Dinh dưỡng bảo vệ tế bào thần kinh:

Cerebrolysin 10ml do Ebewe Pharma sản xuất.

Gliatilin 1gr do ITALPHARMACO sản xuất.

+ Các thuốc phối hợp khác:

- Thuốc chống ngưng kết tiểu cầu: Aspirin 81mg do công ty cổ phần Traphaco sản xuất.

Thuốc hạ áp: Amlor 5mg do Pfizer-Zuelling Pharma sản xuất.

Vitamin nhóm B: Yeyoung.

Dịch truyền.

2.2.  Đối tượng nghiên cứu.

- Động vật nghiên cứu: 60 chuột nhắt trắng chủng Swiss đáp ứng các tiêu chuẩn nghiên cứu.

- Bệnh nhân nghiên cứu: Bệnh nhân cả 2 giới được chẩn đoán xác định nhồi máu não giai đoạn cấp đáp ứng các tiêu chuẩn nghiên cứu.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Nghiên cứu thực nghiệm:

Xác định độc tính cấp (LD50) theo phương pháp Litchfield - Wilcoxon, tại viện Y học cổ truyền Quân đội.

2.3.2. Nghiên cứu lâm sàng.

- Thiết kế nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng mở có đối chứng trước và sau điều trị. Nghiên cứu tiến hành tại Khoa Đột quỵ não - Bệnh viện 103.
- Phương pháp tiến hành: 80 bệnh nhân đột quỵ NMN cấp được lựa chọn ngẫu nhiên và chia vào 2 nhóm:

+ Nhóm nghiên cứu: 41 bệnh nhân được điều trị theo phác đồ YHHĐ (theo khuyến cáo của WHO) + ACNHH viên 3gram, uống 1 viên/ngày x 5 ngày.

+ Nhóm đối chứng : 41 bệnh nhân được điều trị đơn thuần theo phác đồ YHHĐ.

- Kết quả điều trị: Được đánh giá trước và sau 15 ngày điều trị theo thang điểm Glasgow, độ liệt Henry, thang điểm NIHSS.

- Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y sinh học.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả nghiên cứu độc tính cấp.

Sau khi uống thuốc ACNHH với liều cao nhất tương đương với 7,5gr thuốc/kg trọng lượng, chuột hoạt động bình thường, sau 72 giờ không có chuột nào chết. Mổ chuột trong các lô thấy tim, thận tươi nhuận; dạ dày, ruột hết thuốc. Không nhận thấy biểu hiện ngộ độc trên chuột thí nghiệm trong 7 ngày theo dõi.

3.2. Kết quả nghiên cứu lâm sàng.

Bảng 1. Mức độ phục hồi ý thức theo thang điểm Glasgow.

Điểm Glasgow

Nhóm nghiên cứu

Nhóm chứng

Trước điều trị

Sau điều trị

PS-T

Trước điều trị

Sau điều trị

PS-T

n

%

n

%

n

%

n

%

<6

0

0

0

0

<0,001

0

0

0

0

<0,001

6-9

2

4,9

0

0

2

4,9

0

0

10-14

8

19,5

0

0

8

19,5

3

7,3

15

31

75,6

41

100

31

75,6

38

92,7

Cộng

41

100

41

100

41

100

41

100

PA-B

P trước điều trị >0,05, P sau điều trị >0,05

Nhận xét: Cả 2 nhóm ý thức đều cải thiện sau điều trị nhưng nhóm nghiên cứu ý thức trở về mức bình thường 100%.

Bảng 2: Đánh giá kết quả điều trị liệt tay theo thang điểm Henry.

Độ liệt

Nhóm nghiên cứu

Nhóm chứng

Trước điều trị

Sau điều trị

PS-T

Trước điều trị

Sau điều trị

PS-T

n

%

n

%

n

%

n

%

0

1

2,43

6

14,64

<0,001

2

4,87

2

4,87

<0,001

I

5

12,19

7

17,07

4

9,75

7

17,07

II

8

19,51

12

29,26

10

24,39

6

14,64

III

5

12,19

11

26,82

8

19,51

 



Nguồn:

Xem nhiều nhất

Tìm kiếm



An cung ngưu hoàng hoànan cung ngưu hoàn hàn quốc, an cung ngưu hoàng hoàn rùa vàng,